Núi Đọi ai đắp mà cao — đọc chậm một câu ca dao
Bốn câu ca dao nhắc tên núi Đọi, sông Lệnh, cầu Châu, cầu Hầu. Đọc từng chữ để thấy người xưa đã nhìn ngọn núi quê mình bằng con mắt nào, và chỗ nào tư liệu còn để trống.
Hỏi người lớn tuổi quanh vùng về núi Đọi, nhiều người không kể sử mà đọc ngay một câu ca dao. Câu ấy ngắn, dễ thuộc, và mở đầu bằng một câu hỏi chứ không phải một lời khen: "Núi Đọi ai đắp mà cao". Bài này thử đọc chậm từng vế, xem nó nói gì về ngọn núi, và đâu là chỗ ta chỉ có thể đoán.
Bốn câu, bốn địa danh
Theo Báo Ninh Bình, câu ca dao được lưu truyền như sau:
Núi Đọi ai đắp mà cao / Ngã ba sông Lệnh ai đào nên sâu / Khen ai khéo bắc cầu Châu / Khéo bắc cầu Hầu cho cả đường Ngang
Chỉ trong hai cặp lục bát đã có một ngọn núi, một ngã ba sông, hai cây cầu và một con đường. Đó là cách ca dao vẽ bản đồ: không đo đạc, không phương hướng, chỉ gọi tên những nơi mà người trong vùng ai cũng biết. Người nghe ở nơi khác có thể không hình dung được, nhưng người địa phương nghe tới đâu là thấy cảnh tới đó.
"Ai đắp" — câu hỏi không cần lời đáp
Hai câu đầu dùng cùng một khuôn: núi thì hỏi "ai đắp", sông thì hỏi "ai đào". Núi Đọi đứng một mình giữa đồng ruộng phẳng, nên với người đi dưới chân, nó trông như có bàn tay nào đó đắp lên. Câu hỏi ấy không đòi một câu trả lời; nó là cách bày tỏ sự ngạc nhiên trước một ngọn núi mọc lên giữa vùng toàn ruộng nước.
Điều thú vị là chính câu hỏi dân gian này cũng là câu hỏi của giới nghiên cứu. Báo Ninh Bình cho biết GS Trần Quốc Vượng từng quan tâm đến nguồn gốc địa chất của những ngọn "núi sót" như Đọi Sơn và Điệp Sơn. Chúng tôi chưa tìm được công trình gốc của ông nên chưa thuật lại kết luận ở đây, chỉ ghi nhận rằng ngọn núi khiến người cày ruộng tò mò thì cũng khiến nhà khoa học phải đặt bút.
Sông Lệnh, cầu Châu, cầu Hầu
Nếu núi Đọi là điểm cao thì các vế sau kéo người nghe xuống vùng sông nước. Chữ "Châu" khiến người đọc nghĩ tới sông Châu, con sông mà Báo Ninh Bình gọi chung với núi Đọi thành cặp "núi Đọi – sông Châu", biểu tượng núi sông của đất Hà Nam cũ. Theo báo Nhân Dân, sông Châu bắt nguồn từ sông Hồng, chảy trọn trong địa phận tỉnh cũ rồi lại đổ về sông Hồng.
Còn "ngã ba sông Lệnh", "cầu Hầu" và "đường Ngang" cụ thể là những nơi nào, các tư liệu chúng tôi đang có chưa ghi rõ. Chúng tôi không muốn đoán vị trí cho chúng, vì một cái tên đặt sai chỗ trong bài viết về địa danh còn tệ hơn để trống. Nếu bạn đọc là người trong vùng và biết rõ, chúng tôi rất mong được nghe.
Dù chưa định vị được hết, cấu trúc của bài ca vẫn đọc ra được: núi cao đi với sông sâu, cầu này nối với cầu kia, tất cả cùng làm nên một vùng quê đi lại được. Lời khen "khéo bắc" dành cho người làm cầu cho thấy ca dao không chỉ ngắm cảnh mà còn quý công sức con người đặt lên cảnh ấy.
Ngọn núi trong ca dao và ngọn núi trong sử
Ca dao gọi núi Đọi bằng giọng của người dân thường đi dưới chân núi. Sử sách gọi nó bằng giọng khác. Đại Việt sử ký toàn thư chép việc vua Lê Đại Hành về cày ruộng tịch điền ở núi Đọi vào mùa xuân năm Đinh Hợi 987. Đến thời Lý, trên đỉnh núi có chùa được xây từ năm 1054, rồi bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh khởi công năm 1118, theo Tạp chí Nghiên cứu Phật học. Phần này đã được kể kỹ hơn trong bài Chùa Long Đọi Sơn nghìn năm trên núi Đọi.
Đặt cạnh nhau, hai giọng ấy bổ sung cho nhau. Sử cho biết vua chúa đã làm gì trên ngọn núi; ca dao cho biết người làng nhìn ngọn núi ra sao. Câu "ai đắp mà cao" không nhắc vua, không nhắc chùa, chỉ nhắc cái dáng cao của núi giữa đồng. Có lẽ với người sống quanh đó, cái dáng ấy là điều đầu tiên họ thấy mỗi sáng ra đồng, trước khi nghĩ tới bất cứ trang sử nào.
Còn lại gì cho người đến hôm nay
Ngọn núi trong câu ca vẫn đứng đó. Dưới chân phía tây bắc là làng Đọi Tam, nơi người ta làm trống từ lâu đời; trên núi là chùa Long Đọi Sơn. Người đến thăm có thể tự đối chiếu: đứng giữa cánh đồng nhìn lên, sẽ hiểu vì sao người xưa phải hỏi "ai đắp". Muốn biết thêm các mốc lịch sử của vùng này, có thể xem dòng thời gian làng trống Đọi Tam.
Những câu ca như thế này thường không có tác giả và không có năm ra đời. Chúng tôi cũng không gán cho nó một niên đại. Điều chắc chắn duy nhất là nó vẫn được người trong vùng nhớ và đọc cho nhau nghe, và đó cũng là một cách giữ ngọn núi trong trí nhớ chung.
