Núi Đọi sông Châu

Núi sót giữa đồng bằng — núi Đọi nhìn từ dáng đất

Núi Đọi là một ngọn "núi sót", đứng lẻ giữa vùng ruộng phẳng. Bài viết nói về khái niệm ấy, về những gì giới nghiên cứu đã quan tâm, và vì sao dáng đất đã định hình cách con người dùng ngọn núi.

Ban biên tập· Trống Đọi Tam Phạm Kiểm4 phút đọc
Núi sót giữa đồng bằng — núi Đọi nhìn từ dáng đất

Đi trên đường làng quanh vùng Đọi Sơn, người lạ thường để ý một điều trước tiên: tứ phía là ruộng phẳng, rồi bỗng có một khối núi xanh nhô lên, không nối với dãy núi nào. Cái dáng đứng lẻ ấy có một tên gọi trong ngôn ngữ của người nghiên cứu địa hình: núi sót. Bài này không đi sâu vào địa chất, vì tư liệu chúng tôi có chưa cho phép, mà nhìn núi Đọi từ góc dáng đất và cách con người đã sống quanh nó.

"Núi sót" là gì

Theo cách hiểu phổ thông, núi sót là những ngọn núi hay quả đồi đứng riêng lẻ giữa một vùng đất thấp và bằng phẳng, như phần còn sót lại của địa hình cao hơn trước kia. Ở đồng bằng Bắc Bộ, kiểu núi đứng lẻ giữa đồng như vậy không hiếm, và nhiều ngọn trong số đó gắn với đền, chùa hay một sự tích của vùng.

Với núi Đọi, chữ "sót" không chỉ là thuật ngữ. Nó mô tả đúng cảm giác của người đứng dưới chân núi: một ngọn núi như bị bỏ quên giữa cánh đồng. Câu ca dao "Núi Đọi ai đắp mà cao" mà chúng tôi đã đọc trong bài Núi Đọi ai đắp mà cao chính là cách người xưa diễn tả cảm giác ấy, trước khi có ai dùng tới chữ "núi sót".

Giới nghiên cứu đã quan tâm

Theo Báo Ninh Bình, GS Trần Quốc Vượng, người quê làng Lê Xá ở vùng Duy Tiên cũ, từng có nghiên cứu về nguồn gốc địa chất của những ngọn núi sót như Đọi Sơn và Điệp Sơn. Đây là một chi tiết đáng chú ý: một nhà nghiên cứu lớn về văn hoá và lịch sử lại để tâm tới chính những ngọn núi nhỏ ở quê mình.

Tuy vậy, chúng tôi chưa tìm được công trình gốc của ông, nên không thuật lại ông đã kết luận núi Đọi hình thành thế nào. Chúng tôi cũng không nêu chiều cao của núi trong bài này, vì chưa tìm được số liệu có nguồn đáng tin. Khi chưa có con số đo đạc được dẫn nguồn rõ ràng, để trống vẫn hơn đoán.

Dáng đất định hình cách dùng núi

Dù chưa nói được nhiều về địa chất, ta vẫn có thể thấy cái dáng đứng lẻ của núi Đọi đã ảnh hưởng thế nào tới lịch sử của nó. Trên đỉnh núi, triều Lý dựng chùa từ năm 1054 rồi xây bảo tháp từ năm 1118. Theo Báo Văn hoá, chùa thời ấy được xếp hàng "đại danh lam" và kiêm làm hành cung. Một công trình đặt trên đỉnh ngọn núi duy nhất giữa đồng sẽ được nhìn thấy từ rất xa; có lẽ đó cũng là một lý do người xưa chọn nơi này, dù tư liệu không nói thẳng điều ấy.

Dưới chân núi là ruộng. Sử chép mùa xuân năm Đinh Hợi 987 vua Lê Đại Hành về cày ruộng tịch điền ở núi Đọi. Ngọn núi đứng làm mốc, cánh đồng trải ra quanh nó: một khung cảnh rất hợp với một nghi lễ đề cao nghề nông.

Làng nằm ở chân núi

Người dân cũng chọn chỗ ở theo dáng núi. Theo Giáo dục Thời đại, làng Đọi Tam nằm ở chân phía tây bắc núi Đọi, và mộ thờ hai cụ tổ nghề trống ở sát chân núi. Đọi Tam là một trong bảy thôn của xã Đọi Sơn cũ; phần lớn các thôn ấy mang chữ "Đọi" trong tên.

Ở vùng trũng, đất sát chân núi thường cao ráo hơn ruộng xung quanh, nên việc làng mạc bám vào chân núi là điều dễ hiểu. Đây là nhận xét chung về địa hình đồng bằng, chúng tôi không có tư liệu riêng về lý do lập làng Đọi Tam ở đúng vị trí ấy.

Núi và sông, một hệ địa hình

Ngọn núi sót không đứng một mình trong trí nhớ của người địa phương. Nó luôn được nhắc cùng sông Châu, con sông tách từ sông Hồng và chảy qua vùng đồng bằng này, như đã kể trong bài Sông Châu. Một điểm cao lẻ loi và một dòng sông uốn quanh đồng ruộng: hai yếu tố ấy cùng làm nên dáng đất mà người Đọi Sơn đã sống cùng qua nhiều thế kỷ.

Nếu bạn có dịp về, hãy thử đứng giữa cánh đồng một lúc trước khi lên núi. Nhìn từ xa mới thấy hết vì sao ngọn núi nhỏ này lại được vua chúa chọn, được ca dao hỏi "ai đắp", và được nhà nghiên cứu để tâm.

Nguồn tham khảo

  1. Báo Ninh Bình — Núi Đọi sông Châu và dòng chảy lịch sử bất tận
  2. Giáo dục Thời đại — Nghìn năm làng trống dưới chân núi Đọi
  3. Báo Văn hoá — Lễ hội chùa Long Đọi Sơn
núi Đọinúi sótđịa mạođồng bằng Bắc Bộ

Trống làm tại làng Đọi Tam

Trống hội, trống đình chùa, trống trường học — da trâu, tang gỗ mít, làm thủ công tại xưởng Phạm Kiểm.

ZaloFacebookGmail0986 161 521